Mở thùng của hai loài khác nhau thì thấy ngay: bên trong sắp xếp không giống nhau.
Điều này không chỉ là chuyện thú vị, nó ảnh hưởng trực tiếp tới cách thu mật và cách chọn thùng.
Dù khác nhau thế nào, cấu trúc tổ ong dú vẫn có mấy điểm chung.
Mật và phấn được chứa trong những bọng sáp riêng lẻ hình bầu, không phải tầng sáp phẳng như ong mật.
Vùng nuôi ấu trùng tách riêng khỏi vùng chứa mật.
Lối vào tổ là một cái ống bằng sáp trộn nhựa cây, có ong gác.
Và toàn bộ tổ được bao bọc bằng lớp nhựa cây, giúp chống kiến và giữ nhiệt.
| Bộ phận | Chức năng | Khác nhau giữa các loài |
|---|---|---|
| Ống vào tổ | Cửa và phòng thủ | Dài ngắn, loe hay gọn |
| Bọng mật | Chứa mật | Kích thước và cách xếp |
| Bọng phấn | Chứa phấn hoa | Vị trí trong tổ |
| Vùng ấu trùng | Nuôi lứa mới | Xếp tầng hoặc xếp cụm |
| Lớp bao ngoài | Bảo vệ, giữ nhiệt | Độ dày khác nhau |
| Ngăn chứa nhựa cây | Vật liệu xây và trám | Có loài trữ nhiều hơn |
Loài có bọng mật lớn thì thu dễ hơn: tách từng bọng, chắt ra, ít vỡ.
Loài bọng nhỏ thì tốn công hơn và dễ vỡ khi thao tác, nên phải nhẹ tay hơn.
Vị trí bọng mật cũng khác. Có loài xếp tập trung một góc, dễ lấy mà không đụng vùng ấu trùng. Có loài xếp xen kẽ, phải cẩn thận hơn.
Vì vậy người quen thu một loài chuyển sang loài khác thì cần làm chậm lại vài lần đầu.
Đây là khác biệt rõ nhất khi mở thùng.
Có loài xếp vùng ấu trùng thành tầng chồng lên nhau khá đều đặn. Có loài xếp thành cụm không theo trật tự rõ ràng.
Với người nuôi thì điều này ảnh hưởng tới việc tách đàn: loài xếp tầng thì chia dễ hơn, loài xếp cụm thì phải xem kỹ trước khi cắt.
Trong cả hai trường hợp, nguyên tắc chung vẫn là chia sao cho bên nào cũng có phần ấu trùng đủ non để gây chúa mới nếu cần.
Thùng nên vừa với quy mô đàn của loài đang nuôi.
Thùng quá rộng thì đàn tốn sức điều hoà nhiệt và trám kín phần thừa. Thùng quá chật thì đàn nhanh đầy và có thể chia đàn ngoài ý muốn.
Kích thước phù hợp thường học được từ người nuôi cùng loài trong vùng, vì họ đã thử qua nhiều năm.
Ở Ong Zú, thùng được làm theo một quy cách thống nhất phù hợp với loài loài thân nhỏ chịu được nắng gió miền Trung.
Dù thú vị tới đâu thì cũng đừng mở thùng thường xuyên để xem.
Mỗi lần mở là đàn phải trám lại phần bị phá và điều hoà lại nhiệt độ.
Mỗi tháng một lần vào mùa thuận là đủ. Trong tháng 5 đến tháng 8 thì hạn chế tối đa.
Nếu muốn quan sát nhiều thì có thể dùng một tổ có mặt kính riêng cho mục đích đó, thay vì mở tất cả các tổ.
Đó là đặc điểm của nhóm ong không ngòi đốt, chúng chứa mật trong bọng riêng lẻ.
Không hẳn. Còn tuỳ số bọng và sức đàn.
Được nếu che kín khi không quan sát, vì ánh sáng làm đàn khó chịu.
Vừa với quy mô đàn của loài đang nuôi. Nên hỏi người nuôi cùng loài trong vùng.
Khoảng một lần mỗi tháng vào mùa thuận.
Ở Đông Nam Bộ, ong dú có nhiều tên gọi khác nhau tùy địa phương và dễ nhầm với ong dũ hay ong muỗi. Bài này giúp bạn nhận diện chính xác từng loài qua
Ở miền Trung, ong dú còn gọi là ong dũ hay ong muỗi tùy địa phương. Sai lầm khi nhầm loài dẫn đến chọn tổ yếu, mất mùa mật. Bài này giúp bạn nhận diện
Ở miền Tây, ong dú có nhiều tên gọi khác nhau: ong dũ, ong muỗi, ong rú. Người nuôi lần đầu dễ nhầm loài vì ngoại hình tương tự. Mình chia sẻ cách phâ
Miền Nam gọi ong dú bằng nhiều tên khác nhau tùy địa phương. Mình chia sẻ cách nhận diện chính xác ong dú, ong dũ, ong muỗi để tránh mua nhầm loài khi
Ở Tây Nguyên, ong dú còn gọi là ong dũ hay ong muỗi tùy địa phương. Khi mua tổ mẹ để nhân đàn, người nuôi cần phân biệt rõ loài và đánh giá sức khỏe t
Người nuôi ong dú Đông Bắc thường gặp khó khi phân biệt ba loài ong nhỏ: ong dú, ong dũ và ong muỗi. Mỗi loài có đặc điểm riêng, năng suất khác nhau,
Tên gọi và nhận diện ong dú theo từng vùng miền Việt Nam: ong dú, ong dũ, ong muỗi, ong rú, ong lỗ. Phân biệt với các loài ong nhỏ khác hay bị nhầm.