Một đàn ong dú không giữ nguyên sức quanh năm. Nó lên xuống theo nguồn hoa, và nhịp đó khá đều đặn qua các năm.
Hiểu nhịp thì không hoảng khi đàn chững, và biết lúc nào nên làm gì.
Đầu tháng 9 đến tháng 12: hoa dại và cây bụi bung lên, đàn bắt đầu hồi sau mùa khó. Chúa đẻ mạnh trở lại.
Giữa mùa mưa: đàn lên nhanh nhất trong năm. Quân đông, dự trữ tích dần. Đây là lúc tách đàn.
Cuối mùa mưa: nguồn hoa thưa dần nhưng dự trữ đã dày. Đây là lúc thu mật.
Đầu tháng 1 đến tháng 8: đàn ổn định, bắt đầu sống dè.
tháng 5 đến tháng 8: chững lại rõ, chúa giảm đẻ, quân hao dần. Đàn sống bằng dự trữ.
| Giai đoạn | Đàn ra sao | Người nuôi làm gì |
|---|---|---|
| Đầu tháng 9 đến tháng 12 | Bắt đầu hồi | Gia cố, kiểm tổng thể |
| Giữa tháng 9 đến tháng 12 | Lên nhanh nhất | Tách đàn |
| Cuối tháng 9 đến tháng 12 | Dự trữ dày | Thu mật |
| Đầu tháng 1 đến tháng 8 | Ổn định, sống dè | Chống kiến, che nắng |
| tháng 5 đến tháng 8 | Chững lại, hao quân | Không đụng tới đàn |
| Cuối tháng 1 đến tháng 8 | Chớm hồi | Chuẩn bị mùa mới |
Đây là cơ chế điều chỉnh tự nhiên của đàn.
Khi nguồn hoa dồi dào, ong thợ mang về nhiều phấn, chúa đẻ mạnh và đàn tăng quân.
Khi nguồn cạn, lượng phấn giảm, chúa giảm đẻ theo. Đàn tự thu hẹp lại cho vừa với khả năng nuôi.
Đây không phải bệnh mà là cách đàn tự bảo vệ. Nếu chúa cứ đẻ mạnh khi không có gì nuôi thì cả đàn sẽ kiệt.
Hiểu điều này thì không hoảng khi thấy đàn chững trong mùa khó.
Nhiều sai lầm của người mới đến từ việc làm ngược nhịp.
Tách đàn trong tháng 5 đến tháng 8 khi đàn đang thu hẹp. Thu mật khi đàn đang cần dự trữ. Mở thùng kiểm tra khi đàn đang tiết kiệm mọi thứ.
Mỗi việc đó đều lấy đi sức của đàn đúng lúc chúng không có gì bù lại.
Ngược lại, làm đúng nhịp thì mọi thứ dễ hơn: tách khi đàn đang sung, thu khi dự trữ đã dày, để yên khi đàn đang co lại.
Khung chung là vậy, nhưng năm nào cũng lệch ít nhiều.
Năm mưa sớm thì mọi mốc dịch lên. Năm khô kéo dài thì lùi lại.
Ở miền Trung thì mùa khô kéo dài tới tám tháng nên quãng thiếu hoa rất dài, nên biến động giữa các năm khá rõ.
Vì vậy cách chắc nhất là nhìn hoa chứ không nhìn lịch. Thấy keo và tràm bắt đầu nở thì biết mùa đã tới, bất kể tháng mấy.
Ghi lại mốc mỗi năm thì sau vài mùa có lịch riêng cho vườn nhà.
Ở vùng có mùa mưa dài thì đàn có nhiều tháng để tích trữ.
Ở vùng khô hạn kéo dài thì quãng chững lại dài hơn và đàn phải dè hơn.
Ở vùng có mùa lạnh thì có thêm một quãng khó nữa ngoài quãng thiếu hoa.
Vì vậy hướng dẫn chung về lịch tháng thường không áp được, và mỗi vùng phải có lịch riêng.
Bình thường. Đó là cách đàn tự thu hẹp cho vừa với nguồn.
Vì lượng phấn mang về giảm, đàn tự điều chỉnh để không kiệt sức.
Không nên. Đó là đi ngược nhịp tự nhiên và thường phản tác dụng.
Khung chung giống nhau nhưng lệch ít nhiều tuỳ thời tiết từng năm.
Ghi lại mốc hoa nở mỗi tuần trong một năm.
Ở Đông Nam Bộ, ong dú có nhiều tên gọi khác nhau tùy địa phương và dễ nhầm với ong dũ hay ong muỗi. Bài này giúp bạn nhận diện chính xác từng loài qua
Ở miền Trung, ong dú còn gọi là ong dũ hay ong muỗi tùy địa phương. Sai lầm khi nhầm loài dẫn đến chọn tổ yếu, mất mùa mật. Bài này giúp bạn nhận diện
Ở miền Tây, ong dú có nhiều tên gọi khác nhau: ong dũ, ong muỗi, ong rú. Người nuôi lần đầu dễ nhầm loài vì ngoại hình tương tự. Mình chia sẻ cách phâ
Miền Nam gọi ong dú bằng nhiều tên khác nhau tùy địa phương. Mình chia sẻ cách nhận diện chính xác ong dú, ong dũ, ong muỗi để tránh mua nhầm loài khi
Ở Tây Nguyên, ong dú còn gọi là ong dũ hay ong muỗi tùy địa phương. Khi mua tổ mẹ để nhân đàn, người nuôi cần phân biệt rõ loài và đánh giá sức khỏe t
Người nuôi ong dú Đông Bắc thường gặp khó khi phân biệt ba loài ong nhỏ: ong dú, ong dũ và ong muỗi. Mỗi loài có đặc điểm riêng, năng suất khác nhau,
Tên gọi và nhận diện ong dú theo từng vùng miền Việt Nam: ong dú, ong dũ, ong muỗi, ong rú, ong lỗ. Phân biệt với các loài ong nhỏ khác hay bị nhầm.