Ai nuôi được vài năm cũng muốn tăng số tổ. Câu hỏi là tăng nhanh tới đâu.
Nhân quá nhanh thì cả đàn mẹ lẫn đàn con đều mỏng, và sau vài năm cả trại đi xuống.
Mỗi lần tách là đàn mẹ mất một nửa quân và một nửa dự trữ.
Tách năm nào cũng tách, mọi đàn đều tách, thì không đàn nào kịp hồi hẳn.
Sau vài năm thì cả trại toàn đàn mỏng: nhiều tổ nhưng tổ nào cũng yếu, mật thì gần như không có.
Và khi gặp một mùa khó bất thường thì mất hàng loạt, vì không đàn nào đủ dự trữ.
Đây là chuyện xảy ra khá nhiều với người muốn mở rộng nhanh để bán tổ.
| Cách làm | Sau ba năm | Sau năm năm |
|---|---|---|
| Tách mọi đàn mỗi năm | Nhiều tổ nhưng mỏng | Mất hàng loạt khi gặp mùa khó |
| Tách một phần, giữ lại vài đàn nguyên | Tăng vừa phải, đàn khoẻ | Trại ổn định |
| Không tách bao giờ | Số tổ không tăng | Bỏ lỡ cơ hội nhân |
| Tách theo sức từng đàn | Tăng chậm mà chắc | Nền tốt để mở rộng |
Mỗi năm chỉ tách một phần số đàn đủ điều kiện, không tách hết.
Đàn nào tách năm nay thì năm sau để nguyên cho hồi.
Luôn giữ lại vài đàn khoẻ nhất không tách, để làm nguồn dự phòng và để thu mật.
Không tách đàn nào chưa qua một năm ổn định.
Bốn nguyên tắc này làm trại tăng chậm hơn nhưng nền vững hơn.
Đây là điều nhiều người bỏ qua khi tính chuyện nhân đàn.
Ong dú kiếm ăn trong bán kính vài trăm mét. Nuôi thêm tổ ở cùng một chỗ nghĩa là chia lại cùng một nguồn hoa.
Vượt quá sức chứa của vùng thì các đàn tranh nhau, đàn nào cũng mỏng, và tổng sản lượng không tăng dù số tổ tăng.
Muốn tăng thật thì phải mở thêm điểm nuôi cách xa, hoặc trồng bổ sung nguồn hoa trước một hai mùa.
Ở miền Trung thì mùa khô kéo dài tới tám tháng nên quãng thiếu hoa rất dài, nên việc này càng cần tính trước.
Không có con số chuẩn, nhưng tăng gấp đôi mỗi năm là quá nhanh với phần lớn trường hợp.
Tăng vừa phải, kèm theo việc trồng bổ sung nguồn hoa và mở thêm điểm nuôi khi cần, thì bền hơn.
Và nên tính cả tỉ lệ mất đàn: năm nào cũng có vài đàn hỏng vì lý do này khác.
Cách thực tế là đặt mục tiêu theo số đàn khoẻ chứ không theo tổng số tổ.
Nếu chỉ tách từ những đàn khoẻ nhất thì sau vài năm, cả trại đều là hậu duệ của mấy đàn tốt.
Ngược lại tách đại trà từ mọi đàn, kể cả đàn èo uột, thì chất lượng chung đi xuống.
Ghi rõ trong sổ tổ con sinh ra từ tổ nào. Sau vài năm nhìn lại là biết dòng nào khoẻ, dòng nào hay hỏng.
Đó là thông tin không mua được, và chỉ có nếu ghi từ đầu.
Không có con số chuẩn, nhưng gấp đôi mỗi năm là quá nhanh.
Không. Nên giữ lại vài đàn nguyên làm nguồn dự phòng và để thu mật.
Tuỳ nguồn hoa trong bán kính vài trăm mét. Vượt quá thì các đàn tranh nhau.
Mở thêm điểm nuôi cách xa và trồng bổ sung nguồn hoa trước.
Sau vài năm nhìn lại là biết dòng nào khoẻ, dòng nào hay hỏng.
Ở Đông Nam Bộ, ong dú có nhiều tên gọi khác nhau tùy địa phương và dễ nhầm với ong dũ hay ong muỗi. Bài này giúp bạn nhận diện chính xác từng loài qua
Ở miền Trung, ong dú còn gọi là ong dũ hay ong muỗi tùy địa phương. Sai lầm khi nhầm loài dẫn đến chọn tổ yếu, mất mùa mật. Bài này giúp bạn nhận diện
Ở miền Tây, ong dú có nhiều tên gọi khác nhau: ong dũ, ong muỗi, ong rú. Người nuôi lần đầu dễ nhầm loài vì ngoại hình tương tự. Mình chia sẻ cách phâ
Miền Nam gọi ong dú bằng nhiều tên khác nhau tùy địa phương. Mình chia sẻ cách nhận diện chính xác ong dú, ong dũ, ong muỗi để tránh mua nhầm loài khi
Ở Tây Nguyên, ong dú còn gọi là ong dũ hay ong muỗi tùy địa phương. Khi mua tổ mẹ để nhân đàn, người nuôi cần phân biệt rõ loài và đánh giá sức khỏe t
Người nuôi ong dú Đông Bắc thường gặp khó khi phân biệt ba loài ong nhỏ: ong dú, ong dũ và ong muỗi. Mỗi loài có đặc điểm riêng, năng suất khác nhau,
Tên gọi và nhận diện ong dú theo từng vùng miền Việt Nam: ong dú, ong dũ, ong muỗi, ong rú, ong lỗ. Phân biệt với các loài ong nhỏ khác hay bị nhầm.