Người mới hay hỏi bao lâu thì từ vài tổ lên được vài chục.
Câu trả lời trung thực là lâu hơn nhiều so với những gì hay nghe, và có mấy lý do rõ ràng.
Năm thứ nhất: mua hai ba tổ, không tách gì cả. Đàn cần thời gian ổn định ở chỗ mới.
Năm thứ hai: nếu đàn khoẻ thì tách được một hai đàn. Cũng có năm không tách được đàn nào.
Năm thứ ba: bắt đầu nhân đều hơn, nhưng vẫn phải trừ đi số đàn mất.
Từ năm thứ tư trở đi thì mới thấy trại lớn dần rõ rệt.
Nghĩa là muốn có vài chục tổ thì phải tính bằng nhiều năm, chứ không phải một hai mùa.
| Năm | Việc chính | Số tổ thường thấy |
|---|---|---|
| Năm 1 | Học nuôi, không tách | Giữ nguyên hoặc giảm |
| Năm 2 | Tách một hai đàn nếu đủ sức | Tăng ít |
| Năm 3 | Nhân đều hơn | Tăng rõ hơn |
| Năm 4 trở đi | Nhân theo kế hoạch | Tăng đều nếu nguồn hoa còn |
| Bất kỳ năm nào | Trừ đi số đàn mất | Luôn có hao hụt |
Tỉ lệ mất đàn: năm nào cũng có vài đàn hỏng vì lý do này khác. Người mới thì tỉ lệ cao hơn.
Đàn không phải năm nào cũng đủ sức tách. Tách đại trà thì cả trại mỏng, nên phải chọn lọc.
Nguồn hoa: khi số tổ vượt sức chứa của vùng thì các đàn tranh nhau, và nhân thêm cũng vô nghĩa.
Ba thứ này cộng lại giải thích vì sao nhịp thực tế chậm hơn nhiều so với phép tính đơn giản là mỗi đàn tách một lần mỗi năm.
Có cách đi nhanh hơn: tách mọi đàn đủ sức mỗi năm, và mua thêm nhiều.
Nhưng tách đại trà thì đàn nào cũng mỏng, và khi gặp một mùa khó bất thường thì mất hàng loạt.
Mua nhiều một lúc thì lỗi chăm sóc nhân lên theo số tổ, nhất là khi chưa có kinh nghiệm.
Kết quả thường thấy là lên nhanh trong hai năm rồi sụp trong năm thứ ba.
Đi chậm mà chắc thì sau năm năm số tổ thường nhiều hơn, và đàn nào cũng khoẻ.
Khi đã tới giới hạn nguồn hoa quanh nhà thì cách duy nhất để tăng tiếp là mở điểm mới.
Điểm mới phải cách đủ xa để không tranh nguồn với điểm cũ, tính theo bán kính bay vài trăm mét.
Chọn điểm có nguồn hoa riêng và có người trông nom được, vì đi lại tốn thời gian.
Nhiều người nuôi lâu năm dừng ở mức một điểm vài chục tổ, vì mở thêm thì công sức tăng nhanh hơn lợi ích.
Ở Ong Zú, việc mở điểm mới chỉ làm khi thật sự cần chứ không làm để tăng con số.
Đếm số tổ là cách đo dễ nhất nhưng cũng dễ đánh lừa.
Ba mươi tổ mỏng không bằng mười lăm tổ dày. Số tổ tăng mà tổng mật không tăng thì thực chất là chưa tăng gì.
Cách đo hợp lý hơn: số đàn đã qua ít nhất một mùa khó mà vẫn khoẻ.
Con số đó tăng chậm hơn nhiều nhưng phản ánh đúng thực lực của trại.
Trại tin rằng ở vùng khắc nghiệt thì chọn đúng chỗ đặt quan trọng hơn mọi kỹ thuật khác.
Tính bằng nhiều năm, không phải một hai mùa.
Không nên. Đàn cần thời gian ổn định ở chỗ mới.
Vài phần trăm với người có kinh nghiệm, cao hơn trong những năm đầu.
Khi số tổ đã tới giới hạn nguồn hoa quanh nhà.
Số đàn đã qua một mùa khó mà vẫn khoẻ, thay vì tổng số tổ.
Ở Đông Nam Bộ, ong dú có nhiều tên gọi khác nhau tùy địa phương và dễ nhầm với ong dũ hay ong muỗi. Bài này giúp bạn nhận diện chính xác từng loài qua
Ở miền Trung, ong dú còn gọi là ong dũ hay ong muỗi tùy địa phương. Sai lầm khi nhầm loài dẫn đến chọn tổ yếu, mất mùa mật. Bài này giúp bạn nhận diện
Ở miền Tây, ong dú có nhiều tên gọi khác nhau: ong dũ, ong muỗi, ong rú. Người nuôi lần đầu dễ nhầm loài vì ngoại hình tương tự. Mình chia sẻ cách phâ
Miền Nam gọi ong dú bằng nhiều tên khác nhau tùy địa phương. Mình chia sẻ cách nhận diện chính xác ong dú, ong dũ, ong muỗi để tránh mua nhầm loài khi
Ở Tây Nguyên, ong dú còn gọi là ong dũ hay ong muỗi tùy địa phương. Khi mua tổ mẹ để nhân đàn, người nuôi cần phân biệt rõ loài và đánh giá sức khỏe t
Người nuôi ong dú Đông Bắc thường gặp khó khi phân biệt ba loài ong nhỏ: ong dú, ong dũ và ong muỗi. Mỗi loài có đặc điểm riêng, năng suất khác nhau,
Tên gọi và nhận diện ong dú theo từng vùng miền Việt Nam: ong dú, ong dũ, ong muỗi, ong rú, ong lỗ. Phân biệt với các loài ong nhỏ khác hay bị nhầm.